Được tạo bởi Blogger.
Nâng cấp trạm quan trắc nước thải tự động như thế nào?
Trạm quan trắc nước thải tự động được quy định tại Nghị định 40/2019/NĐ-CP, Thông tư 24/2017/TT-BTNMT và một số văn bản pháp luật liên quan. Kể từ 2009 đến nay, các quy định về trạm quan trắc nước thải có nhiều thay đổi, điều chỉnh để hoàn thiện. Chính vì vậy, các trạm quan trắc nước thải tự động được lắp đặt ở các thời điểm trước đây, sẽ không đáp ứng hoàn toàn các quy định hiện hành.
Dựa trên thực tế đó, bài viết này phân tích các trường hợp chưa hoàn thiện và đề xuất những nội dung giúp hoàn thiện trạm quan trắc nước thải tự động để đáp ứng những quy định hiện hành.
Trạm quan trắc nước thải tự động đáp ứng các quy định hiện hành, khi đáp ứng được các nội dung về:
TRẠM QUAN TRẮC LẮP MỚI THEO NGHỊ ĐỊNH 40/2019/NĐ-CP
Cảm ơn bạn đã quan tâm và theo dõi nội dung này.
Trân trọng!
Dựa trên thực tế đó, bài viết này phân tích các trường hợp chưa hoàn thiện và đề xuất những nội dung giúp hoàn thiện trạm quan trắc nước thải tự động để đáp ứng những quy định hiện hành.
Trạm quan trắc nước thải tự động đáp ứng các quy định hiện hành, khi đáp ứng được các nội dung về:
- Đối tượng lắp đặt
- Thành phần cơ bản của trạm quan trắc nước thải
- Chỉ tiêu quan trắc tự động
- Hệ thống hút mẫu và thải bỏ mẫu
- Camera giám sát
- Máy lấy mẫu nước thải tự động
- Bộ lưu điện, báo khói, báo cháy
- Thiết bị truyền nhận dữ liệu (Datalogger)
- Hiệu chuẩn, kiểm định, RA test
- QA/QC và hồ sơ trạm quan trắc
TRẠM QUAN TRẮC LẮP MỚI THEO NGHỊ ĐỊNH 40/2019/NĐ-CP
- Chủ nguồn thải có công suất từ 500 m3/ngày đêm
- Chỉ tiêu pH, nhiệt độ, TSS, COD, Amonia, lưu lượng (đầu vào + đầu ra)
- Camera giám sát vị trí xả thải và tủ quan trắc nước thải tự động
- Máy lấy mẫu nước thải tự động
- Bộ lưu điện, báo khói, báo cháy...
- Datalogger truyền nhận dữ liệu về Sở TN&MT
- Hiệu chuẩn, kiểm định và RA test
- Trạm quan trắc nước thải đã lắp đặt trước ngày 1/7/2019
- Bổ sung thiết bị quan trắc Amonia và lưu lượng nước thải đầu vào...
- Lắp đặt Camera giám sát (nếu chưa có)
- Bổ sung Máy lấy mẫu nước thải tự động (nếu chưa có)
- Bổ sung Bộ lưu điện, báo khói, báo cháy... (nếu chưa có)
- Truyền nhận dữ liệu về Sở TN&MT (nếu chưa hoàn thành)
- Hiệu chuẩn, kiểm định và RA test theo quy định hiện hành
Cảm ơn bạn đã quan tâm và theo dõi nội dung này.
Trân trọng!
Thiết bị giám sát khí thải ống khói online
Thiết bị quan trắc nước thải tự động
Thiết bị quan trắc khí thải online
Thiết bị đo kiểm môi trường online
Công ty chúng tôi chuyên lắp đặt hệ thống/trạm quan trắc nước thải tự động và khí thải tự động công nghiệp. Với kinh nghiệm lâu năm cùng thiết bị chất lượng và giá giả cạnh tranh chắc chắn sẽ làm hài lòng quý khách hàng.
Cùng với quá trình sản xuất là quá trình phát thải vào môi trường những chất gây ô nhiễm môi trường. Quý khách hàng đang tìm một giải pháp quan trắc môi trường với sự tối ưu về chi phí và kỹ thuật.
Chúng tôi xin hân hạnh hợp tác cùng quý khách.
Hãy liên hệ
Nguyễn Hoàng Lâm
HP: 0945 293 292
Email: envilam@gmail.com
Truy cập website: http://bestlab.vn
Nhãn:
Nông thôn mới ở tỉnh Bình Định
Bình Định trên hành trình xây dựng nông thôn mới
Bình Định là tỉnh mà nông nghiệp đang chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu phát triển kinh tế và cũng là nơi điều kiện tự nhiên khá khắc nghiệt, nhiều bão lụt, hạn hán. Nhận thức được điều đó, 10 năm qua (2001-2010), Bình Định tập trung thực hiện quyết liệt việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn và bước đầu đã có hiệu quả cao, bộ mặt nông thôn mới từng bước được hình thành.
Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới
Để khắc phục và hạn chế những khó khăn, bất lợi và khai thác các tiềm năng lợi thế, Bình Định đã phát huy nội lực, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ của các bộ, ngành Trung ương, đầu tư hàng nghìn tỷ đồng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp và nông thôn.
Hàng nghìn công trình, dự án lớn nhỏ đã được đầu tư xây dựng khá đồng bộ như hệ thống thủy lợi, kết hợp thủy điện, hồ chứa nước thủy lợi, đường giao thông nông thôn, hệ thống đê kè chống xói lở và ngăn mặn, rửa chua đã được phát triển trên toàn địa bàn tỉnh. Có thể kể đến các công trình như thủy lợi Định Bình, hệ thống đê Đông, sông La tinh, sông Kôn và nhiều công trình hồ đập Hội Sơn, Vạn Hội, Đại Sơn, Cẩn Hậu, Thạch Khê và Thuận Ninh...Bên cạnh đó, tỉnh cũng xây dựng các công trình ao hồ nuôi trồng thủy sản, cơ sở hạ tầng kỹ thuật khôi phục và phát triển 38 làng nghề truyền thống, các trung tâm đào tạo, giới thiệu việc làm cho hàng vạn nông dân. Tỉnh cũng chú trọng đ ầu tư cho cơ giới hóa nông nghiệp. Lao động thủ công đã chuyển mạnh sang lao động bằng máy móc.
Thành tựu lớn nhất trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn của Bình Định là phổ biến và áp dụng, nhân rộng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, hiện đại vào sản xuất nông nghiệp. Nhiều mô hình, điển hình mới được hình thành và phát triển qua công tác nghiên cứu, khảo nghiệm, tuyển chọn và lai tạo con giống, cây trồng có chất lượng tốt và phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của từng vùng, đưa lại hiệu quả kinh tế cao. Các chương trình, dự án chuyển đổi mùa vụ, chương trình giống lúa lai, giống cây trồng cạn, cải tạo giống bò, nạc hóa đàn lợn, chương trình giống thủy sản và cây lâm nghiệp đã góp phần quan trọng tăng nhanh năng suất và chất lượng cây trồng, vật nuôi, thúc đẩy tăng trưởng của ngành nông nghiệp. Nếu trong thời kỳ 2001-2005 bình quân ngành nông nghiệp hàng năm tăng 5,8% thì thời kỳ 2006-2010 đã tăng 6,8 %; cơ cấu chuyển dịch theo hướng giảm dần giá trị sản xuất trồng trọt từ 71,5% năm 2001 xuống còn 57% năm 2010; tăng giá trị chăn nuôi từ 25,9% năm lên 40,3% và dịch vụ từ 2,65 lên 2,8% . Năng suất lúa đạt 53,1 tạ/ha, tăng 25,2% so với năm 2001 và nhiều diện tích năng suất đạt trên 62 đến 80 tạ/ha/vụ. Đến nay, đàn bò tăng 47,6%, đàn lợn tăng 30,9%, sản lượng khai thác hải sản tăng 120%, sản lượng tôm nuôi tăng 206 % và diện tích rừng che phủ tăng 31% so với năm 2001.
Diện mạo nông thôn mới ngày càng khởi sắc
Những thành công trong công tác chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và nông thôn của tỉnh Bình Định những năm qua đã góp phần to lớn vào việc phá thế độc canh và hướng tới một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, bền vững, làm cho bộ mặt nông thôn mới ngày càng khởi sắc.
Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 152 nghìn hộ nông dân sản xuất giỏi các cấp có mức thu nhập từ 50 đến 100 triệu đồng/năm, trong đó có trên 1.830 hộ có mức thu nhập từ 100 triệu đến 400 triệu/năm và có 88 hộ nông dân sản xuất giỏi đạt cấp Trung ương công nhận. Cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường, trạm và bưu chính viễn thông ngày càng phát triển rộng khắp từ nông thôn đến miền núi và hải đảo. Tỷ lệ hộ nghèo và trẻ em bị suy dinh dưỡng giảm mạnh, trên 90 % nhà ở được ngói hóa hoặc xây dựng kiên cố và đều có phương tiện đi lại và phục vụ sản xuất.
Ông Phan Trọng Hổ, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định cho biết: Mục tiêu phấn đấu của ngành nông nghiệp tỉnh trong 5 năm tới là tăng giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp hàng năm đạt 6,5%; phấn đấu xây dựng 26 xã đạt tiêu chí nông thôn mới. Riêng mục tiêu phấn đấu năm 2011, năm đầu của kế hoạch 5 năm với tổng sản lượng lương thực đạt 670 nghìn tấn, đàn bò 300 nghìn con trong đó tỷ lệ bò lai chiếm 68 %, đàn lợn 750 nghìn con, đàn gia cầm 5,8 triệu con, trồng rừng tập trung 4.500 ha, khai thác hải sản 134 nghìn tấn và nuôi trồng đạt 7.500 tấn...
Để đạt được mục tiêu này, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn thông qua tổ chức thực hiện và nhân rộng các chương trình dự án, mô hình, điển hình làm ăn có hiệu quả; khuyến khích các hộ và các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, phát triển sản xuất theo hướng trang trại, sản xuất tập trung gắn với chế biến. Tỉnh cũng củng cố và phát triển các hợp tác xã nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề truyền thống ở nông thôn, quan tâm đầu tư nguồn nhân lực cho ngành nông nghiệp, chủ động tốt công tác phòng tránh thiên tai và dịch bệnh gia súc gia cầm./.
Nguồn: Agroviet.gov.vn

Nhãn:
Đặc sản tỉnh Bình Định
Bánh ít lá gai: Về Bình Định, du khách sẽ được nếm hương vị ngọt lành của bánh ít lá gai, là thứ bánh đơn sơ mộc mạc, rất gần gũi với nguời dân Bình Định. Những ngày giỗ kỵ có thể thiếu cá, thiếu thịt nhưng không thể thiếu bánh ít lá gai.Và trong phong tục cưới xin, mâm bánh ít lá gai làm lễ hồi dâu còn thể hiện sự đảm đang khéo léo của người phụ nữ. Bánh được làm bằng bột nếp tươi quết nhuyễn với lá gai và đường cát, nhân bánh làm bằng đậu xanh hoặc cơm dừa. Bánh ít đậm đà hương vị quê hương gắn liền với câu ca:
Bánh hỏi: Được làm từ bột gạo, là món ăn đặc thù của Bình Định. Bánh hỏi thường được ăn kèm với thịt heo, bánh tráng và các loại rau thơm, nước mắm, tạo thành món ăn mang đầy đủ hương vị chua, cay, ngọt, béo, thơm ngon vô cùng đặc trưng, hấp dẫn.
Rượu Bàu Đá: Là loại rượu nổi tiếng của Bình Định, được chưng cất ở vùng An Nhơn, hương vị thơm ngon đặc thù, sánh ngang với nhiều loại rượu nổi tiếng trong cả nước như rượu làng Vân ở miền Bắc, rượu Gò Đen ở miền Nam…
Các đặc sản tỉnh Bình Định
“Muốn ăn bánh ít lá gai
Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi ”
Bún song thằng: Làm bằng đậu xanh, nổi tiếng vì có hương vị thơm ngon đặc biệt và có giá trị dinh dưỡng cao, được sản xuất ở vùng An Thái (Nhơn Phúc - An Nhơn). Sở dĩ có tên gọi "song thằng" vì khi làm bún người ta thường bắt bún thành từng đôi một. Tương truyền các vua triều Nguyễn thường triệu thợ bún An Thái ra kinh đô Huế làm, nhưng không thành công, vì không có nước sông Côn, cho nên còn có tên gọi là bún "sông thần" và gọi chệch đi thành bún song thần.
Nem Chợ Huyện: Là loại nem được chế biến ở huyện Tuy Phước, tập trung ở vùng chợ huyện lỵ nên được gọi là nem Chợ Huyện. Nem Chợ Huyện nổi tiếng trong cả nước và đã đi vào đời sống của người dân qua câu ca dao:
"Ai về Tuy Phước ăn nem
Ghé qua Hưng Thạnh mà xem tháp Chàm"
Du khách đến Bình Định ai ai cũng muốn thưởng thức miếng nem Chợ Huyện thơm ngon, vừa chua, vừa cay, vừa ngọt, vừa dai, vừa dòn, cùng với ly rượu Bàu Đá cay nồng, đậm đà và mang về làm quà cho bạn bè, người thân những chiếc nem Chợ Huyện đặc trưng hương vị Bình Định.
Bánh tráng: Là món thường xuyên có mặt trong các bữa ăn của người dân từ các bữa ăn bình thường đến các buổi tiệc, liên hoan, cưới hỏi... Tiếng bẻ rốp rốp, mùi bay thơm thơm... đó là khí vị đặc biệt của ẩm thực Bình Định. Bình Định được xem là quê hương của bánh tráng, vì tương truyền rằng bánh tráng là món lương khô chiến lược được ra đời cùng với bước chân thần tốc của đội quân Tây Sơn đánh đuổi ngoại xâm. Bánh tráng có nhiều loại như bánh tráng gạo, bánh tráng mè, … và nổi bật là bánh tráng nước dừa ở vùng Hoài Nhơn - Bình Định. Bánh tráng cũng là món quà đặc trưng của quê hương Bình Định.
Thủy, hải đặc sản: Chình: có nhiều loại chình như chình mun và chình bông, thịt ngon và bổ. Đặc biệt là loại chình mun ở đầm Châu Trúc – Huyện Phù Mỹ nổi tiếng thơm, ngon và có giá trị bổ dưỡng rất cao.
Các loại tôm, cua, mực, cá: như tôm ùm, tôm sú, cua huỳnh đế, mực ống, cá chua, cá ngừ đại dương… được chế biến thành những món ăn hấp dẫn có giá trị dinh dưỡng cao phù hợp với khẩu vị mọi người.
Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Định

Nhãn:
Thị trường tỉnh Bình Định
Các hoạt động xúc tiến thương mại trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua đã góp phần hỗ trợ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh thương mại phát triển sản phẩm mới, quảng bá thương hiệu, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tạo nên kênh mua sắm cho người tiêu dùng.
Hoạt động xúc tiến thương mại trên địa bàn tỉnh ngày càng được đẩy mạnh
| Lễ Khai mạc Hội chợ Triển lãm đồ Gỗ và Lâm sản Việt Nam năm 2011 tại tp Quy Nhơn |
Do tình hình lạm phát tăng cao, việc tăng lãi suất ngân hàng, tỷ giá ngoại tệ,.. các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gặp khó khăn trong tiếp cận vốn vay, thách thức về chi phí đầu vào của một số hàng hoá, nguyên vật liệu thiết yếu phục vụ sản xuất như giá điện, xăng dầu, phân bón... đã tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, nhờ thực hiện tốt các giải pháp Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, Chỉ thị 01/CT-UBND ngày 28/02/2011 của UBND tỉnh Về việc tập trung thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội,hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh vẫn giữ được mức tăng trưởng. Các hoạt động xúc tiến thương mại trên địa bàn đã góp phần hỗ trợ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh thương mại phát triển sản phẩm mới, quảng bá thương hiệu, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tạo nên kênh mua sắm cho người tiêu dùng.
Năm 2011, Bình Định tổ chức thành công 02 hội chợ cấp quốc gia và cấp tỉnh gồm Hội chợ Triển lãm đồ Gỗ và Lâm sản Việt Nam năm 2011 thuộc Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia năm 2011, Hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao năm 2011; 10 hội chợ, triển lãm thương mại tại các huyện và 05 Phiên chợ hàng Việt về nông thôn góp phần bổ sung lượng hàng hóa tại khu vực nông thôn, đảm bảo bình ổn giá cả thị trường trên địa bàn.
Trong các hoạt động thương mại, đáng chú ý là công tác thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, với hình thức tổ chức Phiên chợ “Đưa hàng Việt về nông thôn”. Qua đó mở ra hướng tiếp cận thị trường mới cho các doanh nghiệp mà chủ yếu là thị trường nông thôn. Chương trình đã thu hút sự quan tâm của người tiêu dùng đối với sản phẩm hàng hoá do Việt Nam sản xuất, tạo cho người tiêu dùng có thói quen mua sắm hàng hóa do Việt Nam sản xuất.
Thực tế cho thấy, việc tham gia và tổ chức các hội chợ, triển lãm thương mại là một trong những giải pháp hiệu quả thúc đẩy hoạt động xúc tiến thương mại phát triển. Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại của tỉnh còn bộc lộ hạn chế như: chất lượng tổ chức tham gia các hội chợ, triển lãm thương mại trong và ngoài tỉnh chưa thể hiện được tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, doanh nghiệp trong tỉnh chưa quan tâm nhiều đến quảng bá thương hiệu,..
Nhằm đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại trong những năm tiếp theo, Sở Công Thương đã xây dựng trình UBND tỉnh về dự thảo quy định một số chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất thuộc làng nghề tham dự hội chợ, triển lãm trong nước và nước ngoài trên cơ sở điều chỉnh, bổ sung chính sách xúc tiến thương mại đã được UBND tỉnh ban hành trước đây;dự thảo quy định một số chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất tham gia các phiên chợ hàng Việt nhằm thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” của Bộ Chính trị.
Nguồn: www.sctbinhdinh.gov.vn

Nhãn:
Dự án công nghiệp tỉnh Bình Định
Bình Định là tỉnh duyên hải Nam Trung bộ Việt Nam, phía bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía nam giáp tỉnh Phú Yên, phía tây giáp tỉnh Gia Lai và đông giáp Biển Đông; cách Thủ đô Hà Nội 1.065km, cách Thành phố Hồ Chí Minh 686km, cách Thành phố Đà Nẵng 300km, cách Cửa khẩu Quốc tế Bờ Y (Kon Tum) thông sang Lào 300km.
Bình Định có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 27oC, độ ẩm trung bình 80%, hàng năm có số giờ nắng trung bình trên 2.000 giờ, lượng mưa trung bình khoảng 2.000mm, rất thích hợp cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp và du lịch.

Bình Định có hệ thống giao thông đồng bộ bao gồm: đường bộ, đường sắt quốc gia, cảng biển quốc tế, sân bay. Đi lại bằng đường hàng không giữa Bình Định với Thành phố Hồ Chí Minh chỉ mất 1 giờ, với Hà Nội chỉ 2 giờ.
Cấp điện, cấp nước, các dịch vụ bưu chính - viễn thông, tài chính, ngân hàng, các cơ sở giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khoẻ đảm bảo đáp ứng nhu cầu của mọi người dân và doanh nghiệp.
Thành lập tháng 6/2005, Khu Kinh tế Nhơn Hội được xây dựng và phát triển thành khu kinh tế tổng hợp, đa ngành, đa lĩnh vực, có quy chế hoạt động riêng, bao gồm: khu phi thuế quan, khu công nghiệp, khu cảng biển và dịch vụ cảng biển, các khu du lịch, dịch vụ và khu đô thị mới, vận hành theo cơ chế ưu đãi đặc biệt, là trung tâm và động lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Định và của khu vực miền Trung. Khu kinh tế Nhơn Hội đang mở ra nhiều cơ hội đầu tư và kinh doanh cho doanh nghiệp. Đến với Khu kinh tế này, các doanh nghiệp có thể đầu tư quy mô lớn vào các ngành kinh tế mũi nhọn và công nghệ cao như xây dựng cảng biển nước sâu, đóng mới và sửa chữa tàu biển, lọc và hoá dầu, sản xuất lắp ráp đồ điện, điện tử, sản xuất điện, phát triển du lịch, dịch vụ hàng hải, thương mại, dịch vụ tài chính, ngân hàng, bưu chính, viễn thông... đồng thời có thể lựa chọn đầu tư trong khu thuế quan, khu chế xuất hoặc khu phi thuế quan.
Tỉnh Bình Định mời gọi đầu tư và hợp tác
Bình Định có tổng diện tích tự nhiên 6.025km2, dân số khoảng 1,6 triệu người, về cơ cấu hành chính bao gồm 1 thành phố và 10 huyện, trong đó có 3 huyện miền núi. Thành phố tỉnh lỵ Quy Nhơn là đô thị loại 1, có diện tích 284,28 km2, dân số trên 260.000 người.
Trong những năm qua, Tỉnh Bình Định đã chủ động phát huy nội lực và tích cực thu hút các nguồn lực từ bên ngoài nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế và nâng cao mức sống của nhân dân. Phương châm của tỉnh trong mời gọi hợp tác, đầu tư là đi trước một bước trong chuẩn bị hạ tầng kinh tế - xã hội và cải cách thủ tục hành chính.
Trung tâm Xúc tiến Đầu tư tỉnh Bình Định tự hào giới thiệu một Bình Định thực sự hấp dẫn trong đầu tư và kinh doanh.
Lợi thế của Bình Định
1. Vị trí chiến lược
Bình Định - 1 trong 5 tỉnh của Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung - nằm ở trung tâm của trục Bắc - Nam Việt Nam trên cả 3 tuyến đường bộ, đường sắt và đường hàng không, là cửa ngõ ra biển gần nhất và thuận lợi nhất của Tây Nguyên, nam Lào, đông bắc Campuchia và Thái Lan (bằng cảng biển quốc tế Quy Nhơn và Quốc lộ 19). Với vị trí này, Bình Định có lợi thế vượt trội trong liên kết, giao lưu kinh tế khu vực và quốc tế.
2. Hạ tầng đồng bộ
Hạ tầng phục vụ du lịch, vui chơi giải trí đã và đang được quan tâm đầu tư, nâng cấp.
3. Nguồn tài nguyên và tiềm năng phong phú
Bên cạnh 134km bờ biển với nhiều bãi biển, thắng cảnh biển và nguồn lợi thuỷ sản, Bình Định còn có nhiều loại khoáng sản như đá granite, ilmenite, cát, cao lanh, đất sét, suối khoáng, vàng.
Bình Định là miền đất võ nhưng giàu truyền thống nhân văn với nhiều di tích lịch sử - văn hoá gắn với tên tuổi của anh hùng dân tộc Hoàng Đế Quang Trung - Nguyễn Huệ và phong trào Tây Sơn cùng các danh nhân văn hoá của đất nước.
Bình Định từng là kinh đô của Vương quốc Champa với di tích thành Đồ Bàn (Vijaya) nổi tiếng và 14 tháp Chàm mang phong cách kiến trúc độc đáo.
Bình Định còn là quê hương của các loại hình nghệ thuật dân gian như tuồng, bài chòi; có nhiều làng nghề truyền thống, nhiều đặc sản với phong cách ẩm thực đặc sắc và các lễ hội được tổ chức hàng năm.
Với 1,6 triệu dân, trong đó trên 50% trong tuổi lao động, có truyền thống cần cù, sáng tạo, Bình Định có thể cung cấp một nguồn nhân lực dồi dào.
4. Kinh tế phát triển năng động, an ninh chính trị ổn định
Nền kinh tế của tỉnh trong những năm qua phát triển mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 12%. Đồng thời, an ninh chính trị ổn định và trật tự xã hội được đảm bảo, là những điều kiện căn bản để thu hút đầu tư và du lịch. Ngành nghề chủ yếu của tỉnh là chế biến đồ gỗ, lâm sản, nông sản, khoáng sản, thuỷ sản, trong đó đồ gỗ là thế mạnh tạo nên tên tuổi của Bình Định trên thị trường thế giới.
5. Hoạch định mang tính đột phá và sự mời gọi nhiệt thành
Bình Định đang tập trung xây dựng và phát triển Khu kinh tế Nhơn Hội trên diện tích 12.000 ha ngay sát Thành phố Quy Nhơn với những dự án quy mô lớn và đang thể hiện thiện chí mời gọi hợp tác, đầu tư từ các đối tác trong và ngoài nước với quyết tâm biến tiềm năng thành nguồn lực thực tế phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà.
6. Chính sách thông thoáng và cởi mở
Cùng với tinh thần hợp tác tích cực là những chính sách cởi mở, thông thoáng, ưu đãi và hỗ trợ thiết thực, coi lợi ích và thành công của nhà đầu tư là lợi ích và thành công của chính mình. Cộng đồng doanh nghiệp ở Bình Định phát triển rất năng động, chứng tỏ môi trường kinh doanh tại tỉnh minh bạch và thuận lợi, là đất lành cho doanh nghiệp.
Nguồn: www.binhdinhinvest.gov.vn

Nhãn:
Du lịch tỉnh Bình Định
Bãi biển Quy Nhơn – Cát Hải: Thiên nhiên đã hào phóng ban tặng cho Bình Định những bãi biển tràn ngập ánh nắng, mặt nước trong xanh, kéo dài từ trung tâm thành phố Quy Nhơn về hướng đông bắc qua các xã Nhơn Lý, Nhơn Hội (Quy Nhơn), Cát Tiến, Cát Hải (Phù Cát) là một trong những bờ biển đẹp nhất Nam Trung Bộ với những bãi tắm lý tưởng như Tân Thanh, Vĩnh Hội, Trung Lương, thu hút đông đảo khách du lịch đến đây hòa mình vào cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, biển cả bao la với những cồn cát, hải đảo ngập tràn gió lộng, xen giữa những bãi biển lấp lánh cát vàng, sóng xanh và thưởng thức các món hải sản đặc sắc của địa phương.Bình Định là tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam, Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, Nam giáp tỉnh Phú Yên, Tây giáp tỉnh Gia Lai, Đông giáp Biển Đông
Đồi Ghềnh Ráng: Nằm ở phía Đông Nam thành phố Quy Nhơn, là thắng cảnh quốc gia, làtác phẩm thiên tạo với quần thể sơn thạch chạy sát biển, nơi đây đá chất chập chùng tạo thành hang, thành rạng, thành gành với khí hậu mát lành và phong cảnh hữu tình, được vua Bảo Đại chọn là nơi nghỉ mát từ năm 1927. Dưới chân đồi Ghềnh ráng, bên bờ gành là bãi tắm độc đáo với vô số viên đá cuội được sóng biển mài nhẵn, dành riêng cho Nam Phương Hoàng Hậu khi về đây nghỉ mát nên còn gọi là bãi tắm Hoàng Hậu. Từ trên sườn đồi có thể ngắm bao quát toàn bộ phía Đông thành phố Quy Nhơn và xa hơn là bán đảo Phương Mai với đầm Thị Nại như một bức tranh thủy mặc. Và bên cạnh sườn đồi còn có mộ nhà thơ Hàn Mặc Tử - một thi sĩ nổi tiếng trong làng thi ca Việt Nam.
Đầm Thị Nại, Bán đảo Phương Mai: Phía Đông Bắc Quy Nhơn có đầm Thị Nại là đầm lớn nhất Bình Định chạy dài hơn mười cây số, bề rộng tới gần bốn cây số với nhiều loại thủy hải sản nổi tiếng tươi ngon bổ dưỡng. Trong đầm, ở gần bờ phía Tây có một núi nhỏ - trên đó có ngôi miếu nhỏ do dân chài lập ra để thờ thuỷ thần - hình dáng núi tựa như một ngôi tháp cổ, gọi là tháp Thầy Bói (do chim bói cá thường tụ tập trên các khối đá nên có tên như vậy), làm cho cảnh quan đầm thêm sinh động và hấp dẫn. Mỗi buổi ban mai, những tối trăng tròn chìm ngập trong rừng ngập mặn xanh tươi, mặt đầm mờ mờ, huyền ảo như chốn thần tiên.
Thắng cảnh Hầm Hô: Là một khúc sông dài gần 3 km chảy qua các khu rừng già với những tảng đá lớn muôn hình muôn vẻ trên địa bàn xã Tây Phú, huyện Tây Sơn, cách Quy Nhơn khoảng 55 km.
Suối khoáng Hội Vân: nằm trên địa bàn xã Cát Trinh, huyện Phù Cát cách thành phố Quy Nhơn 48 km về phía Tây Bắc, trong một vùng có cảnh đẹp thanh tao, kỳ ảo Hội Vân là một suối khoáng nóng có giá trị đối với việc điều dưỡng chữa các bệnh như thấp khớp, tim mạch, các bệnh ngoài da... Tương truyền đây là suối nước mà thần tiên đã ban cho một công nương trong hoàng tộc Champa để chữa bệnh, vì vậy mà con suối này còn có tên gọi là suối Tiên. Hiện nay ở đây có viện điều dưỡng chữa bệnh với các phương pháp trị liệu cổ truyền được du khách đánh giá cao.
Bình Định: Danh lam thắng cảnh
Nằm về phía Đông đầm Thị Nại, như một tấm bình phong khổng lồ án ngữ phía biển cho thành phố Quy Nhơn là bán đảo Phương Mai, với hệ thống núi đá trùng điệp ăn ra biển chạy dài khoảng 15 km. Phía Bắc bán đảo và chếch về phía Tây Bắc là những bãi biển tuyệt đẹp chạy dài tới huyện Phù Cát. Nhìn từ xa, Phương Mai như đầu một con rồng, thân nằm dài về phía Bắc đến tận cửa Đề Gi. Tận cùng phía Nam của bán đảo là một lưỡi nhọn hình mũi mác với nhiều hóc đá kỳ thú, hiểm trở, chim yến thường kéo về làm tổ, dâng tặng cho loài người loại đặc sản "yến sào" vô cùng bổ dưỡng, quý hiếm.
Đầm Thị Nại và bán đảo Phương Mai từng là vị trí phòng thủ chiến lược quân sự quan trọng, là nơi ghi dấu nhiều chiến công hiển hách của nghĩa quân Tây Sơn và thêm vào đó vẻ đẹp, vẻ hoành tráng của thiên nhiên, của non nước chốn này mà nổi bật lên là cầu đường Quy Nhơn – Nhơn Hội dài 7km 048m bắc ngang qua đầm Thị Nại, nối liền bán đảo Phương Mai với thành phố Quy Nhơn, đã hấp dẫn biết bao khách đến tham quan du lịch.
Hầm Hô nổi tiếng là nhiều cá, nhất là về mùa lũ, cá từ khắp nơi kéo về từng bầy đặc cả nước. Cá lội ngược dòng bị thác nước hất tung trở lại trông như cá bay. Dân gian truyền rằng, hàng năm Long Vương tổ chức kỳ thi cho cá tại Hầm Hô, con nào vượt qua được sẽ hóa thành rồng, do điển tích này mà thác Hầm Hô còn có tên chữ là Vũ Môn, còn dân gian thì gọi là thác Cá Bay. Với chiều rộng trên dưới 30m, lòng sông chi chít những trụ đá hoa cương thiên hình vạn trạng muôn màu lóng lánh, rực rỡ như ngàn viên kim cương khoe mình bên làn nước trong xanh. Đi dọc theo dòng sông sẽ gặp Hòn Đá Thành – một vách đá dựng đứng như tường thành, rêu phủ xanh rì, rễ cây phủ kín cổ kính. Bên trái thành có một bãi đá chồng chất lên nhau như có một người khổng lồ đổ cả một thúng đá xuống bờ sông, nên dân gọi đây là khúc sông Trời lấp. Qua khúc sông này là vũng cá Rói luôn chứa đầy cá rói dồn tụ về đây. Tiếp một đoạn nữa có một khối đá giống như cá sấu nằm ngay giữa lòng sông, chắn dòng nước chảy xiết làm bọt tung trắng xóa nên gọi là Hòn Trào. Và còn nữa những khối đá như sống động, có hồn, bởi huyền tích do con người thêu dệt như Hòn Vò Rượu, hòn dấu chân ông Khổng Lồ, Bàn Cờ Tiên, Hòn Ông Táo... Càng đi sâu cảnh vật càng kỳ thú, hương rừng ngào ngạt, chim hót véo von. Thiên nhiên ở đây tạo nên một bức tranh sinh động kỳ ảo và là nơi lý tưởng cho du khách nghỉ ngơi. Hầm Hô cũng là nơi khắc sâu lịch sử của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn và các nghĩa binh của Mai Xuân Thưởng.
Hồ Núi Một: Là một hồ nước ngọt lớn có mặt hồ rộng hơn 1.200 ha, ở xã Nhơn Tân, huyện An Nhơn, Xung Quanh hồ là suối, thác, hang động, rừng nguyên sinh, chính giữa là mặt nước hồ phẳng lặng, trong xanh, tạo nên một khung cảnh sơn thuỷ sông – suối – núi – hồ hữu tình, gần cuối hồ là làng đồng bào dân tộc Bana, giúp cho du khách khám phá tìm hiểu thiên nhiên, đời sống sinh hoạt của đồng bào dân tộc và cùng tham gia các hoạt động văn hoá của đồng bào dân tộc Bana như: ca múa hát, cồng chiêng.
Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Định

Nhãn:
Thông tin tỉnh Bình Định
Bình Định: Dịch vụ công trực tuyến
Theo thông tư số 26/2009/TT-BTTTT ngày 31/07/2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về việc cung cấp thông tin và đảm bảo khả năng truy cập thuận tiện đối với trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước, dịch vụ công trực tuyến được định nghĩa và phân loại như sau:
1. Dịch vụ hành chính công: là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước (hoặc tổ chức, doanh nghiệp được ủy quyền) có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý.
2. Dịch vụ công trực tuyến: là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng.
3. Dịch vụ công trực tuyến mức độ 1: là dịch vụ đảm bảo cung cấp đầy đủ các thông tin về quy trình, thủ tục; hồ sơ; thời hạn; phí và lệ phí thực hiện dịch vụ.
4. Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 1 và cho phép người sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu. Hồ sơ sau khi hoàn thiện được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ.
5. Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 và cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng. Việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ.
6. Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trực tuyến. Việc trả kết quả có thể được thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến người sử dụng.
Hiện tại, các dịch vụ công trực tuyến do các cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh cung cấp đã được triển khai đến mức độ 2 và 3. Các cá nhân và tổ chức có thể tìm hiểu và sử dụng các dịch vụ công trực tuyến này tại mục Tra cứu thuộc menu Thủ tục hành chính của website này hoặc trực tiếp tại website của các sở, ban, ngành.
Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Định

Nhãn:
Thông tin tỉnh Bình Định
Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Định
Bình Định: Đặc điểm kinh tế xã hội
Nguồn nhân lực
Bình Định có nhiều dân tộc chung sống, đoàn kết trong đấu tranh và xây dựng đất nước. Dân tộc Kinh chiếm 98% so tổng dân số, 3 dân tộc thiểu số chiếm 2% chủ yếu là Ba Na, H're, Chăm ở 113 làng/22 xã các huyện miền núi, trung du. Với tổng dân số 1.488.900 người (năm 2009) phân bố không đều, trong đó thành phố Quy Nhơn cao nhất là 982 người/km2, thấp nhất là huyện Vân Canh 31 người/ km2. Dân số nam chiếm 48,9%, nữ chiếm 51,1%; dân số thành thị chiếm 27,8% dân số, nông thôn chiếm 72,2%. Cơ cấu dân số trẻ, dưới 30 tuổi chiếm 62,8% là nguồn cung cấp lao động dồi dào cho các ngành kinh tế. Hiện có 849.300 lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân.
Cơ sở hạ tầng
Hệ thống giao thông khá đồng bộ. Quốc lộ 1A (qua tỉnh 118 km) và đường sắt quốc gia (qua tỉnh 150 km) chạy xuyên suốt chiều dài Bắc - Nam của tỉnh; cùng với Quốc lộ 1D (dài 34 km), Quốc lộ 19 (qua tỉnh 70 km) nối Cảng Quy Nhơn với bên ngoài thuận lợi. Cảng Quy Nhơn là một trong 10 cảng biển lớn của cả nước có thể đón tàu 3 vạn tấn ra vào cảng an toàn. Cảng Thị Nại là cảng địa phương đang được nâng cấp đón tàu 1 vạn tấn. Sân bay Phù Cát cách thành phố Quy Nhơn 30km về phía Bắc đã và đang mở thêm nhiều chuyến bay đón hành khách đi và đến Bình Định. Toàn tỉnh có 386 km đường tỉnh lộ, đáng chú ý có tuyến đường ven biển nối từ Nhơn Hội đến Tam Quan tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, khai thác tiềm năng ven biển; tuyến đường phía Tây tỉnh đang được xây dựng nối từ An Nhơn đến Hoài Nhơn tạo điều kiện phát triển Kinh tế - Xã hội và khai thác tiềm năng vùng đồi núi của tỉnh; hầu hết các xã đều có đường ô tô đến trung tâm. Đã có 100% số thôn, bản trong tỉnh có điện, 98,2% số hộ được dùng điện.
Hệ thống bưu điện, bưu cục phủ kín toàn tỉnh, đến năm 2009 bình quân có 74 số thuê bao điện thoại/100 dân. Trường Đại học Quy Nhơn nằm trên đường An Dương Vương thực hiện đào tạo đa ngành cung cấp đội ngũ cán bộ có trình độ đại học và trên đại học cho khu vực. Trên địa bàn tỉnh có Trường Đại học Quy Nhơn, Trường Đại học Quang Trung, Trường Cao đẳng Sư phạm, Trường Cao đẳng Nghề, 2 trường trung học chuyên nghiệp, 436 trường học phổ thông. Tại tỉnh có 18 bệnh viện với 3005 giường bệnh, 6 phòng khám, 1 viện điều dưỡng và 159 trạm xá xã; trong đó có Bệnh viện đa khoa tỉnh, Bệnh viện đa khoa thành phố tại Quy Nhơn và 2 bệnh viện đa khoa khu vực tại Phú Phong và Bồng Sơn là những cơ sở khám chữa bệnh cho nhân dân có chất lượng cao. Hạ tầng thương mại, du lịch được xây dựng đang đáp ứng yêu cầu phát triển.
Về phát triển kinh tế - xã hội
Trong những năm qua, kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định không ngừng phát triển. Các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội được nâng cao, các công trình hạ tầng kỹ thuật và phúc lợi xã hội được đầu tư phát triển.
Mặc dù chịu ảnh hưởng của tình hình suy thoái kinh tế thế giới nhưng kinh tế thời kỳ 2006 - 2010 của tỉnh liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước. Tổng sản phẩm địa phương (GDP) tăng bình quân 10,7%/năm. Trong đó các ngành thuộc khu vực công nghiệp - xây dựng 15,2%, nông - lâm - ngư nghiệp tăng 7,1% và dịch vụ tăng 11,2%. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 15,7%/năm. GDP bình quân/người tăng từ 219,7 USD năm 2000 lên 401 USD năm 2005 và 901 USD vào năm 2010. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, năm 2000 có cơ cấu nông, lâm, ngư nghiệp - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ là 42,2% - 22,8% - 35%, đến năm 2005 có tỷ trọng tương ứng là 38,4% - 26,7% - 34,9% và năm 2010 là: 35% - 27,4% - 37,6%. Nhìn chung, công nghiệp có bước phát triển khá, nhiều khu, cụm công nghiệp được hình thành, khu kinh tế Nhơn Hội đang được xây dựng hạ tầng và xúc tiến thu hút đầu tư. Sản xuất nông nghiệp phát triển khá toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa.
Các hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch và liên kết, hợp tác kinh tế tiếp tục phát triển. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 10,2%/năm. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tiếp tục được đầu tư.Trong năm 2006 - 2010 đã huy động vốn đầu tư khoảng 37,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 40,2% GDP. Cơ cấu lao động có bước chuyển dịch theo hướng giảm dần trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp và tăng trong lĩnh vực công nghiệp - dịch vụ.
Giáo dục - đào tạo - dạy nghề phát triển mạnh về cơ sở vật chất, mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo. Công tác xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh, đa dạng hoá các loại hình trường lớp, các loại đào tạo, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập và phát triển nguồn nhân lực. Đến năm học 2006 - 2010 số học sinh hệ mẫu giáo đạt 46.000 em, học sinh phổ thông 307.300 em, kết quả phổ cập tiểu học và xoá mù chữ được duy trì, phổ cập trung học cơ sở hoàn thành năm 2004. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nghề cho người lao động được tăng cường, trong 5 năm đã đào tạo, bồi dưỡng tập huấn nghề trên 10 vạn lượt người, giải quyết việc làm cho trên 12 vạn lao động. Đã huy động được nhiều nguồn vốn trong xã hội để thực hiện công tác giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo còn 8,3%. công tác hỗ trợ xây dựng nhà ở cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số có nhà ở đơn sơ đạt kết quả tốt.
Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ. Đã mở rộng bảo hiểm y tế cho người nghèo, tăng cường hoạt động khám bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi. Công tác y tế dự phòng được đầu tư thường xuyên. Đến cuối năm 2009 có 136/159 xã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm 3,15%.
Hoạt động văn hoá thông tin đáp ứng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ của nhân dân, bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống được chú trọng. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá được tiếp tục phát triển, hầu hết địa bàn dân cư được phủ sóng phát thanh và truyền hình.
Hoạt động khoa học và công nghệ tập trung vào việc nghiên cứu, ứng dụng nhằm sử dụng có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Nhiều tiến bộ khoa học công nghệ được ứng dụng đem lại hiệu quả thiết thực như giống mới, kỹ thuật canh tác phòng trừ dịch, hại tổng hợp, thay đổi mùa vụ, cơ cấu cây trồng.
Bước đầu xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ vận động viên thể thao thành tích cao của một số môn có thế mạnh của tỉnh như võ thuật, điền kinh, bơi lội, bóng đá… đi đôi với phát triển phong trào TDTT quần chúng.
Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Định

Đăng ký:
Nhận xét (Atom)







